Bé trai học bơi suýt đuối nước khi bất ngờ nhảy xuống hồ

Bé trai học bơi suýt đuối nước khi bất ngờ nhảy xuống hồ

Trong khi phụ huynh trao đổi với thầy giáo dạy bơi cho con, bé trai 5 tuổi ở Hà Nội bất ngờ nhảy xuống hồ.

May mắn, lực lượng cứu hộ ở hồ bơi nhanh chóng vớt bé, sơ cứu và chuyển cháu tới cấp cứu tại Bệnh viện Xanh Pôn ngày 12/6, trong tình trạng mệt mỏi, khó thở, ho nhiều. Kết quả chụp X-quang cho thấy hình ảnh viêm phổi phải. Sau 5 giờ điều trị tích cực tại khoa Cấp cứu, trẻ đã qua tình trạng nguy hiểm, điều trị tại khoa Nhi hô hấp. Sau 5 ngày, bé ổn định và được ra viện.

Bác sĩ Trần Văn Trung, Trưởng khoa Hồi sức cấp cứu Nhi, cho biết khi trẻ bị đuối nước, phản xạ đầu tiên là co thắt thanh quản, tiếp đó là phản xạ làm nước và các chất bẩn, dị vật sặc vào phổi dẫn đến suy hô hấp, giảm oxy máu, thay đổi về khối lượng tuần hoàn gây tử vong. Nếu cứu được, nguy cơ trẻ bị nhiễm khuẩn ở phổi rất cao. Khi bị đuối nước, thời gian thiếu oxy của nạn nhân càng dài nguy cơ tử vong càng cao và di chứng càng nặng nề.

Đối với trẻ bị đuối nước, sơ cứu sớm và đúng cách ngay tại hiện trường là rất quan trọng để cứu sống trẻ và giảm thiểu các di chứng do thiếu oxy não. Đầu tiên, cần nhanh chóng đưa trẻ ra khỏi mặt nước bằng mọi cách. Đặt trẻ nằm ngửa trên nền cứng, khô ráo, thoáng khí. Trường hợp trẻ còn tự thở, cho trẻ nằm nghiêng sang một bên. Cởi bỏ quần áo ướt, giữ ấm. Nhanh chóng đưa trẻ đến cơ sở y tế gần nhất vì có thể sẽ xảy ra khó thở tái diễn.

Trong trường hợp trẻ bất tỉnh, hãy quan sát lồng ngực trẻ có di động hay không. Nếu lồng ngực không di động, tức là trẻ ngừng thở thì phải nhanh chóng thực hiện hô hấp nhân tạo bằng cách: đặt nạn nhân nằm ưỡn cổ và nghiêng mình sang bên trái; lau sạch dãi, chất thải hoặc dị vật ở miệng và mũi nạn nhân. Thực hiện hà hơi thổi ngạt bằng miệng ngay lập tức.

Sau khi thổi ngạt 2 cái, cần kiểm tra xem tim trẻ còn đập hay không bằng cách bắt mạch cảnh, bẹn, hoặc áp tai vào lồng ngực bên trái xem có tiếng tim đập không. Nếu không bắt được mạch chứng tỏ tim trẻ đã ngừng đập, cần phải hô hấp nhân tạo kèm theo ép tim ngoài lồng ngực, liên tục kể cả trong khi đưa trẻ đi cấp cứu tại cơ sở y tế gần nhất.

(Nguồn vnexpress.net)

Cách sơ cứu khi bị ong chích

Cách sơ cứu khi bị ong chích

Để nạn nhân nằm yên tại chỗ, dùng nhíp gắp ngòi độc ra, chườm lạnh vết thương, uống nhiều nước và đưa đến bệnh viện cấp cứu.

Bác sĩ Lê Vũ Phượng Thy, Trưởng khoa Hồi sức chống độc, Bệnh viện Nhi đồng Thành phố, cho biết mùa hè thường gia tăng tai nạn do ong đốt. Mọi người khi ở quê hay đi du lịch cần cẩn thận tránh xa tổ ong.

Nạn nhân bị ong đốt sẽ nhiễm độc, sốt… Mức độ độc phụ thuộc vào loài ong, số lượng nốt đốt. Nốt đốt càng nhiều, càng gần vị trí quan trọng như đầu và cổ, nạn nhân càng nhiễm độc nặng. Nọc độc của ong có thể gây vỡ hồng cầu, tan máu, tổn thương cơ, tiêu cơ vân, rối loạn đông máu. Bệnh nhân có thể bị chảy máu phổi, tổn thương tim, suy tim, suy thận.

Khi bị ong đốt nhiều (5 đến 10 nốt trở lên), nạn nhân sẽ có triệu chứng mệt, khó chịu, sưng đau, đặc biệt vết đốt ở đầu, mặt, cổ, vai trên, cần đến cơ sở y tế càng sớm càng tốt. Có trường hợp chỉ bị ong đốt 2 nốt nhưng tình trạng nhiễm độc lại rất nặng.

Theo bác sĩ Thy, sơ cứu ban đầu đúng cách sẽ tránh bệnh diễn biến nặng. Nạn nhân nên uống nhiều nước (nước lọc, nước rau, oresol) để độc nhanh chóng được thải ra khỏi cơ thể, giảm mức độ nhiễm nặng. Vào viện, bệnh nhân được truyền dịch liên tục, lợi tiểu. 

Nếu bị ong đốt, cần lưu ý sơ cứu kịp thời theo các bước sau:

Nhanh chóng đưa người bị nạn ra khỏi khu vực có ong. Đặt người nằm yên tại chỗ, tránh cử động nhiều để hạn chế nọc độc lan truyền nhanh trong cơ thể.

Dùng nhíp lấy ngòi chích của ong ra. Tuyệt đối không dùng tay nặn ép lấy ngòi vì có thể khiến nọc độc lan ra và thấm sâu hơn vào cơ thể.

Chườm lạnh lên vết đốt để giảm đau và sưng. Uống nhiều nước thải các độc tố.

Đưa người bị nạn tới cơ sở y tế gần nhất để cấp cứu và điều trị kịp thời.

(Nguồn vnexpress.net)

CPR Hồi sức tim phổi

CPR Hồi sức tim phổi

I. CPR Hồi sức tim phổi là gì ?

CPR : CARDIOPULMONARY RESUSCITATION- Hồi sinh tim phổi

(Khẩu quyết: 30 lần ấn tim thì 2 lần thổi ngạt, ấn tim 2 nhịp /giây và cứ lặp lại)

  • Hồi sức tim phổi là một kỹ thuật cứu sinh hữu ích trong nhiều tình huống cấp cứu, bao gồm đau tim hoặc đuối nước, trong đó nạn nhân bị ngừng thở hoặc ngừng tim.
  • Hồi sức tim phổi bao gồm hà hơi thổi ngạt miệng-miệng và bóp tim ngoài lồng ngực để giữ cho máu có oxy đến được não và các cơ quan trọng yếu khác cho đến khi việc điều trị chính qui hơn có thể phục hồi nhịp tim bình thường.
  • Khi tim ngừng đập, tình trạng thiếu máu có oxy trong vòng vài phút có thể gây tổn thương não không hồi phục. Tử vong sẽ xảy ra trong vòng 8 – 10 phút. Thời gian là rất cấp bách khi bạn phải giúp một người đang bất tỉnh và bị ngừng thở.

II. Kỹ thuật Hồi sức tim phổi

(Chia làm 2 nhóm nạn nhân: người lớn và trẻ nhỏ <8 tuổi)

Trước khi bắt đầu : Hãy đánh giá tình hình trước khi bắt đầu hồi sức tim phổi

  • Người bệnh tỉnh hay không tỉnh
  • Nếu người bệnh có vẻ bất tỉnh, hãy đập hoặc lắc vào vai nạn nhân và hỏi to “Anh (chị) không sao chứ?”
  • Nếu người bệnh không phản ứng, hãy gọi cấp cứu hoặc nhờ ai đó gọi cấp cứu. Nhưng nếu bạn có một mình và nạn nhân là trẻ em hoặc trẻ từ 1 – 8 tuổi, hãy tiến hành hồi sức tim phổi trong 2 phút trước khi gọi cấp cứu.

Đường thở: Làm thông đường thở

  • Đặt nạn nhân nằm ngửa trên mặt phẳng vững chắc
  • Quì xuống cạnh cổ và vai nạn nhân
  • Mở thông đường thở của nạn nhân bằng cách đẩy cằm lên. Đặt lòng bàn tay bạn lên trán của nạn nhân và đẩy nhẹ xuống. Sau đó dùng tay kia đẩy nhẹ cằm ra trước để mở thông đường thở.
  • Kiểm tra nhịp thở bình thường, tiến hành nhanh, không quá 10 giây: Tìm cử động của ngực, nghe tiếng thở, và cảm nhận hơi thở của nạn nhân vào má hoặc tai bạn. Đừng coi tiếng thở hổn hển là bình thường.
  • Nếu nạn nhân không thở bình thường hoặc bạn không dám chắc, hãy bắt đầu hà hơi thổi ngạt kiểu miệng-miệng.

Thổi ngạt: Thở cho nạn nhân

  • Hà hơi thổi ngạt có thể thực hiện theo kiểu miệng-miệng hoặc miệng-mũi nếu miệng bị tổn thương nặng hoặc không thể mở được
  • Khi đường thở đã thông (bằng cách đẩy cằm ngửa lên trên), hãy kẹp chặt mũi nạn nhân để hà hơi thổi ngạt miệng-miệng và áp miệng bạn vào miệng nạn nhân.
  • Chuẩn bị thổi ngạt hai hơi. Thổi ngạt hơi thứ nhất – kéo dài một giây – và nhìn xem lồng ngực có nâng lên không.
  • Nếu lồng ngực không nâng lên, đẩy cằm ngửa lên trên lại và thổi ngạt lần thứ hai.
  • Bắt đầu bóp tim ngoài lồng ngực.

Bóp tim ngoài lồng ngực: Phục hồi tuần hoàn máu

(Khẩu quyết: 30 lần ấn tim thì 2 lần thổi ngạt, ấn tim 2 nhịp /giây và cứ lặp lại)

  • Đặt gốc cổ tay lên giữa ngực nạn nhân, giữa các xương sườn. Đặt tay kia lên trên tay này. Giữ cho khuỷa tay của bạn thẳng và tư thế bả vai thẳng góc với bàn tay.
  • Dùng sức nặng của thân trên (chứ không phải chỉ của cánh tay) khi bạn ấn thẳng lồng ngực xuống khoảng 3, 5 – 5cm. Ấn mạnh và nhanh – ấn 2 lần mỗi giây, hoặc khoảng 100 lần/phút.
  • Sau khi ấn 30 cái, đẩy đầu ngửa ra sau và nâng cằm lên để mở đường thở.
  • Chuẩn bị thổi ngạt hai hơi. Kẹp chặt mũi và thổi vào miệng nạn nhân trong 1 giây. Nếu lồng ngực phồng lên, thổi ngạt hơi thứ hai. Nếu lồng ngực không phồng lên, đẩy cằm ngửa lại và thổi ngạt lần thứ hai. Đó là một chu kỳ. Nếu có thêm người, hãy đề nghị người đó thổi ngạt hai hơi sau khi bạn ấn ngực 30 cái.
  • Nếu nạn nhân chưa cử động sau 5 chu kỳ (khoảng 2 phút) và có sẵn máy khử rung tim ngoài tự động, hãy mở máy và làm theo hướng dẫn. Nếu bạn chưa được đào tạo về cách sử dụng máy khử rung, nhân viên trực tổng đài cấp cứu có thể hướng dẫn cho bạn. Nhân viên được đào tạo tại nhiều địa điểm công cộng cũng có thể cung cấp và sử dụng máy khử rung tim ngoài. Sử dụng miếng đệm dành cho trẻ em, nếu có, cho trẻ từ 1 – 8 tuổi. Nếu không có miếng đệm dành cho trẻ em, hãy dùng loại dành cho người lớn.
  • Không dùng máy khử rung ngoài cho trẻ dưới 1 tuổi. Nếu không có máy khử rung ngoài, hãy làm theo bước 5 dưới đây.
  • Tiếp tục hồi sức tim phổi cho đến khi có dấu hiệu cử động hoặc cho đến khi nhân viên y tế tiếp nhận nạn nhân.

Hồi sức tim phổi ở trẻ em

(Khẩu quyết: 30 lần ấn tim thì 2 lần thổi ngạt, ấn tim 2 nhịp /giây và cứ lặp lại)
Qui trình hồi sức tim phổi cho trẻ từ 1 – 8 tuổi về cơ bản giống như qui trình dành cho người lớn. Những khác biệt gồm:

  • Thực hiện 5 chu kỳ ấn tim và thổi ngạt trên trẻ – điều này mất khoảng 2 phút – trước khi gọi cấp cứu, trừ khi có người khác gọi cấp cứu trong khi bạn chuyên tâm vào trẻ.
  • Chỉ dùng một tay để ấn tim. (lực ấn mạnh quá có nguy cơ làm gãy xương sườn gây tràn dịch, tràn khí màn phổi, tổn thương trung thất)
  • Thổi ngạt nhẹ nhàng hơn (Thổi mạnh có nguy cơ làm rách phổi, gây tràn dịch, tràn khí màn phổi)
  • Sử dụng nhịp ấn tim/thổi ngạt như ở người lớn: 30 lần ấn tim tiếp theo là hai lần thổi ngạt. Đó là một chu kỳ. Sau hai hơi thổi ngạt, ngay lập tức bắt đầu chu kỳ ấn tim và thổi ngạt tiếp theo. Tiếp tục cho đến khi nạn nhân cử động hoặc đến khi có sự trợ giúp.

III. Tiến hành hồi sức tim phổi ở trẻ nhỏ

Phần lớn các trường hợp ngừng tim ở trẻ dưới 1 tuổi là do thiếu oxy, như trong trường hợp đuối nước hoặc sặc. Nếu bạn biết trẻ bị tắc đường hô hấp, trước tiên hãy áp dụng biện pháp sơ cứu cho trường hợp sặc. Nếu bạn không biết tại sao trẻ ngừng thở, hãy tiến hành hồi sức tim phổi.
Để bắt đầu, hãy đánh giá tình hình.

  • Vỗ vào trẻ và xem trẻ có đáp ứng, như cử động hay không, nhưng đừng lắc mạnh trẻ.
  • Nếu không có đáp ứng, hãy thực hiện qui trình hồi sức tim phổi và gọi cấp cứu.

Qui trình hồi sức tim phổi ở trẻ nhỏ

  • Nếu bạn chỉ có một mình và trẻ cần hồi sức tim phổi, hãy tiến hành hồi sức tim phổi trong 2 phút – khoảng 5 chu kỳ – trước khi gọi cấp cứu.
  • Nếu có thêm người, hãy nhờ người đó gọi cấp cứu ngay trong khi bạn chăm sóc cho trẻ.

Đường thở: Khai thông đường thở

  • Đặt trẻ nằm ngửa trên bề mặt cứng, phẳng như mặt bàn, sàn nhà hoặc nền đất.
  • Đẩy đầu ngửa nhẹ ra sau bằng cách dùng một tay đẩy cằm lên và tay kia ấn trán xuống.
  • Trong thời gian không quá 10 giây, ghé tai vào sát miệng trẻ và kiểm tra hơi thở. Tìm chuyển động của ngực, nghe tiếng thở, và cảm nhận hơi thở trên má và tai bạn.
  • Nếu trẻ không thở, bắt đầu thổi ngạt miệng-miệng ngay.

Thổi ngạt: Thở cho trẻ

  • Áp miệng của bạn trùm lên cả miệng và mũi trẻ.
  • Chuẩn bị thổi ngạt hai hơi. Dùng sức của má để thổi nhẹ không khí (thay vì thở sâu từ phổi) để từ từ thổi vào miệng trẻ trong một giây. Nhìn xem lồng ngực của trẻ có phồng lên không. Nếu có, thổi ngạt hơi thứ hai. Nếu lồng ngực không phồng lên, đẩy đầu trẻ ngửa trở lại và thổi ngạt lần hai.
  • Nếu lồng ngực vẫn không phồng lên, kiểm tra miệng trẻ để đảm bảo không có dị vật bên trong. Nếu có dị vật, dùng ngón tay lấy nó ra khỏi miệng trẻ.
  • Nếu đường thở có vẻ bị tắc nghẽn, tiến hành sơ cứu như với trẻ bị sặc- dị vật đường thở
  • Bắt đầu bóp tim – xem phần “Bóp tim ngoài lồng ngực” dưới đây

Bóp tim ngoài lồng ngực: Phục hồi tuần hoàn máu

  • Tưởng tượng một đường thẳng chạy ngang nối hai núm vú của trẻ. Đặt hai ngón tay của một bàn tay ở giữa ngực ngay dưới đường này.
  • Ấn nhẹ lồng ngực xuống khoảng 1/3 đến 1/2 chiều sâu của lồng ngực.
  • Đếm to trong khi bạn ấn với nhịp khá nhanh. Bạn cần ấn với tốc độ khoảng 100 lần/phút.
  • Cứ sau 30 lần ấn lại thổi ngạt hai hơi.
  • Thực hiện hồi sức tim phổi trong khoảng 2 phút trước khi gọi giúp đỡ trừ khi có người khác gọi cấp cứu trong khi bạn chăm sóc cho trẻ.
  • Tiếp tục hồi sức tim phổi cho đến khi bạn thấy các dấu hiệu sống hoặc cho đến khi có nhân viên y tế đến tiếp nhận nạn nhân

(Nguồn: phongcapcuu.com)